
Sau khi cha mẹ mất, ông T. gọi hai người chị gái của tôi ở Quảng Ngãi để thực hiện thủ tục phân chia di sản thừa kế theo đó để toàn bộ tài sản cho ông T. quản lý sử dụng để lo hương khói cho cha mẹ. Sau khi làm thủ tục phân chia xong, ông T. làm thủ tục sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ cha mẹ sang ông T. Sau đó, ông T. thực hiện việc bán toàn bộ tài sản. Đầu năm 2026, tôi về quê thì được hàng xóm thông báo thửa đất của cha mẹ tôi để lại đã bị ông T. bán cho người khác. Khi tôi liên hệ cho ông T. thì ông T. nói tôi là con gái lấy chồng rồi thì không được đòi hỏi tài sản của cha mẹ, ông T. là con trai lo việc thờ tự cha mẹ nên có quyền quyết định. Cuộc họp phân chia di sản này tôi và một người em gái còn lại không được thông báo.
Bà H. hỏi, vậy ông T. có quyền bán toàn bộ nhà đất là di sản của cha mẹ để lại khi văn bản thoả thuận phân chia di sản thiếu người thừa kế không? Tôi cần thực hiện những thủ tục gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình?
Trả lời vấn đề này, Luật sư Đặng Văn Vương, Phó Trưởng Văn phòng Luật sư Phong & Partners cho biết, trong thực tế, tranh chấp thừa kế thường phát sinh khi một trong những người thừa kế cố tình làm sai thủ tục khai nhận để tự ý định đoạt, chuyển nhượng tài sản là di sản mà chưa có sự đồng ý của các đồng thừa kế khác. Việc này có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của những người có quyền hưởng di sản, đặc biệt khi tài sản đã được chuyển giao cho người khác. Khi phát sinh sự việc, các đồng thừa kế cần xác định rõ nguồn gốc tài sản, thời điểm mở thừa kế, những người có quyền hưởng di sản và tình trạng pháp lý của giao dịch đã được thực hiện. Trên cơ sở đó, người có quyền lợi bị xâm phạm có thể thực hiện các biện pháp phù hợp để bảo vệ quyền lợi và yêu cầu giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật.
Thứ nhất, văn bản thoả thuận phân chia di sản không có đầy đủ người thừa kế có thể bị vô hiệu
Điều 612 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác”.
Điều 649 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định”.
Điểm a khoản 1 Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về những trường hợp thừa kế theo pháp luật: “1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:
a) Không có di chúc;…”.
Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về người thừa kế theo pháp luật:
"1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau".
Điều 656 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về họp mặt những người thừa kế:
“1. Sau khi có thông báo về việc mở thừa kế hoặc di chúc được công bố, những người thừa kế có thể họp mặt để thỏa thuận những việc sau đây:
a) Cử người quản lý di sản, người phân chia di sản, xác định quyền, nghĩa vụ của những người này, nếu người để lại di sản không chỉ định trong di chúc;
b) Cách thức phân chia di sản.
2. Mọi thỏa thuận của những người thừa kế phải được lập thành văn bản”.
Điều 123 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội:
“Giao dịch dân sự có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu.
Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định.
Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng”.
Từ những quy định nêu trên, cha mẹ bà H. mất không để lại di chúc nên nhà đất là di sản thừa kế của cha mẹ và được phân chia theo pháp luật. Hàng thừa kế căn cứ theo quy định Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về người thừa kế theo pháp luật: “1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây: a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;…”. Do đó, bà H. thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cha mẹ. Những người ở cùng hàng thừa kế sẽ được hưởng phần di sản bằng nhau.
Việc thoả thuận phân chia di sản thừa kế trong Bộ luật Dân sự quy định về họp mặt những người thừa kế phải có đầy đủ người thừa kế, và mọi thỏa thuận của những người thừa kế phải được lập thành văn bản. Tuy nhiên, bà H. và một người thừa kế khác không được thông báo về việc họp mặt phân chia di sản, không có tên trong văn bản thỏa thuận, không ký văn bản và cũng không có văn bản từ chối nhận di sản hoặc ủy quyền cho người khác thực hiện thủ tục. Như vậy, trường hợp người thừa kế hợp pháp bị che giấu loại trừ khỏi việc phân chia di sản là trái pháp luật thì quyền thừa kế của họ được khôi phục, thông qua việc yêu cầu Tòa án tuyên vô hiệu văn bản khai nhận hoặc thỏa thuận phân chia di sản và thực hiện việc chia lại di sản theo đúng quy định tại các Điều 609, Điều 650, Điều 651 và Điều 660 Bộ luật Dân sự 2015.
Trường hợp ông T. che giấu người thừa kế hợp pháp, văn bản thoả thuận thiếu người thừa kế thì văn bản thoả thuận phân chia di sản thừa kế nêu trên vô hiệu vì vi phạm điều cấm của luật. Việc sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ tên cha mẹ qua tên ông T. là sai thủ tục nên Giấy chứng nhận có thể bị thu hồi hoặc bị hủy theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Do đó, ông T. không có quyền bán di sản thừa kế của cha mẹ để lại cho người khác nên giao dịch mua bán của ông T. với người mua cũng bị vô hiệu theo. Khi giao dịch mua bán bị vô hiệu thì các bên phải khôi phục tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.
Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Giao dịch dân sự có hiệu lực khi chủ thể có năng lực phù hợp, tham gia hoàn toàn tự nguyện, mục đích và nội dung không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội”.
Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Các bên phải khôi phục tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; trường hợp không thể hoàn trả bằng hiện vật thì hoàn trả bằng tiền và bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường”.
Trường hợp ông T. tự ý bán di sản thừa kế, bà H. và đồng thừa kế khác có thể thực hiện các biện pháp sau:
- Yêu cầu tuyên giao dịch vô hiệu: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông T. là sai thủ tục nên giấy chứng nhận đó sẽ bị huỷ, ông T. không có quyền bán di sản thừa kế mà cha mẹ để lại. Bà H. và đồng thừa kế còn lại có thể yêu cầu Tòa án tuyên giao dịch vô hiệu theo Điều 123 Bộ luật Dân sự 2015 (giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật).
- Khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế: Theo khoản 2 Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015, những người cùng hàng thừa kế được hưởng phần di sản bằng nhau. Vì vậy, bà H. và các đồng thừa kế có quyền khởi kiện tại Tòa án để yêu cầu chia di sản.
Như vậy, khi di sản thừa kế bị bán trái quy định, người thừa kế cần nhanh chóng thu thập chứng cứ và khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu chia di sản, tuyên giao dịch vô hiệu hoặc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, bà H. cần thực hiện những thủ tục gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình?
Khi phát hiện ông T. tự ý bán toàn bộ nhà đất là di sản của cha mẹ để lại, bà H. cần thực hiện những thủ tục sau để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Bước 1: Thu thập tài liệu, chứng cứ liên quan đến di sản thừa kế.
Trước hết, người có quyền thừa kế cần thu thập đầy đủ các giấy tờ chứng minh quyền thừa kế và tình trạng pháp lý của tài sản, bao gồm:
- Giấy chứng tử của cha mẹ người để lại di sản;
- Giấy tờ chứng minh quan hệ thừa kế như giấy khai sinh của các đồng thừa kế; giấy đăng ký kết hôn của cha mẹ, sổ hộ khẩu gia đình;
- Giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản của người chết (ví dụ: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cha mẹ);
- Thu thập hồ sơ về khai nhận di sản thừa kế;
- Hợp đồng mua bán, giấy tờ chuyển nhượng tài sản hoặc các giấy tờ thể hiện việc giao dịch giữa ông T. và người mua (nếu có);
- Các tài liệu khác chứng minh việc bán tài sản là trái pháp luật (ví dụ: Giấy đặt cọc, giấy nhận tiền, hình ảnh, video,…).
Những tài liệu trên đây là căn cứ quan trọng để chứng minh quyền thừa kế của bà H. và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các đồng thừa kế còn lại.
Bước 2: Thương lượng hoặc hòa giải giữa các bên.
Sau khi có đầy đủ chứng cứ, các bên có thể tiến hành thương lượng với ông T. (người đã bán di sản) và bên mua để yêu cầu hủy bỏ giao dịch mua bán trái pháp luật.
Đối với tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất, các bên có thể yêu cầu hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất theo quy định tại Điều 235 Luật Đất đai 2024. Việc hòa giải có thể giúp giải quyết tranh chấp nhanh chóng và hạn chế việc phải đưa vụ việc ra Tòa án.
Bước 3: Nộp đơn khởi kiện tại Tòa án
Nếu không thể giải quyết bằng thương lượng hoặc hòa giải, bà H. có quyền nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền để yêu cầu:
- Chia di sản thừa kế của cha mẹ để lại là thửa đất diện tích 1000m² tại Quảng Ngãi;
- Giải quyết tranh chấp liên quan đến việc chuyển nhượng tài sản đối với thửa đất;
- Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người thừa kế. Theo Điều 26 và Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự, tranh chấp về thừa kế tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực.
Bước 4: Chuẩn bị hồ sơ khởi kiện.
Hồ sơ khởi kiện tranh chấp thừa kế thường bao gồm:
- Đơn khởi kiện;
- Giấy tờ chứng minh quan hệ thừa kế;
- Giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản của người để lại di sản;
- Tài liệu liên quan đến việc mua bán, chuyển nhượng tài sản;
- Các chứng cứ khác liên quan đến vụ việc.
Sau khi nhận hồ sơ, Tòa án sẽ xem xét và ra thông báo thụ lý vụ án hoặc yêu cầu bổ sung hồ sơ theo quy định.
Bước 5: Tham gia quá trình giải quyết tại Tòa án.
Sau khi vụ án được thụ lý, các bên cần tham gia đầy đủ các hoạt động tố tụng như:
- Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ;
- Phiên hòa giải tại Tòa án;
- Phiên tòa xét xử vụ án;
- Bản án hoặc quyết định của Tòa án sẽ là căn cứ pháp lý để giải quyết tranh chấp và xác định quyền lợi của từng người thừa kế đối với di sản.
Bước 6: Lưu ý về thời hiệu khởi kiện
Theo Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về thời hiệu khởi kiện như sau:
“1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:
a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;
b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.
2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.
3. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.”
Như vậy, thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế là 30 năm đối với bất động sản; 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Do đó, người thừa kế cần thực hiện quyền khởi kiện trong thời hạn pháp luật quy định để tránh mất quyền yêu cầu chia di sản.