
Trả lời về vấn đề này, Luật sư Phan Thụy Khanh, Phó trưởng Văn phòng Luật sư Phong & Partners cho biết, việc người sử dụng lao động khấu trừ tiền lương của người lao động để đóng BHXH, BHYT và bảo hiểm thất nghiệp nhưng không thực hiện việc đóng theo quy định là hành vi vi phạm nghĩa vụ đóng bảo hiểm bắt buộc.
Tùy thời điểm, thời gian và các điều kiện luật định, hành vi này có thể bị xác định là chậm đóng hoặc trốn đóng, kéo theo các trách nhiệm pháp lý tương ứng. Do đó, người lao động cần chủ động kiểm tra quá trình tham gia bảo hiểm và thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo vệ quyền lợi của mình.
Thứ nhất, Công ty thuộc trường hợp chậm đóng hay trốn đóng bảo hiểm?
Để xác định được Công ty thuộc trường hợp nào thì trước hết cần làm rõ khái niệm chậm đóng và trốn đóng bảo hiểm. Điều này được quy định cụ thể tại Điều 38 và 39 Luật Bảo hiểm xã hội 2024:
“Điều 38. Chậm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp
Chậm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp là hành vi của người sử dụng lao động thuộc một trong các trường hợp sau đây:
1. Chưa đóng hoặc đóng chưa đầy đủ số tiền phải đóng theo hồ sơ tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp đã đăng ký kể từ sau ngày đóng bảo hiểm xã hội chậm nhất quy định tại khoản 4 Điều 34 của Luật này hoặc kể từ sau ngày đóng bảo hiểm thất nghiệp chậm nhất theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp, trừ trường hợp quy định tại điểm đ và điểm e khoản 1 Điều 39 của Luật này;
[…]
4. Thuộc trường hợp không bị coi là trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại khoản 2 Điều 39 của Luật này".
"Điều 34. Mức đóng, phương thức và thời hạn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc của người sử dụng lao động
[…]
4. Phương thức, thời hạn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc chậm nhất đối với người sử dụng lao động được quy định như sau:
a) Ngày cuối cùng của tháng tiếp theo đối với phương thức đóng hằng tháng;
b) Ngày cuối cùng của tháng tiếp theo ngay sau chu kỳ đóng đối với phương thức đóng 03 tháng một lần hoặc 06 tháng một lần".
"Điều 39. Trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp
1. Trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp là hành vi của người sử dụng lao động thuộc một trong các trường hợp sau đây để không đóng hoặc đóng không đầy đủ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động:
[…]
đ) Không đóng hoặc đóng không đầy đủ số tiền đã đăng ký bảo hiểm xã hội bắt buộc sau 60 ngày kể từ ngày đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc chậm nhất quy định tại khoản 4 Điều 34 của Luật này và đã được cơ quan có thẩm quyền đôn đốc theo quy định tại Điều 35 của Luật này;
e) Không đóng hoặc đóng không đầy đủ số tiền đã đăng ký bảo hiểm thất nghiệp sau 60 ngày kể từ ngày đóng bảo hiểm thất nghiệp chậm nhất theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp và đã được cơ quan có thẩm quyền đôn đốc theo quy định tại Điều 35 của Luật này;
g) Các trường hợp khác bị coi là trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Chính phủ.
2. Chính phủ quy định chi tiết Điều này; quy định các trường hợp thuộc khoản 1 Điều này nhưng có lý do chính đáng thì không bị coi là trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp”.
Bên cạnh đó, trường hợp “không bị coi là trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp” được hướng dẫn cụ thể bởi Điều 4 Nghị định 274/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 30/11/2025 như sau:
“Điều 4. Các trường hợp không bị coi là trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệpCác trường hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 39 của Luật Bảo hiểm xã hội không bị coi là trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp khi có một trong các lý do sau theo công bố của cơ quan có thẩm quyền về phòng, tránh thiên tai, tình trạng khẩn cấp, phòng thủ dân sự và phòng, chống dịch bệnh, bao gồm:
1. Bão, lũ, ngập lụt, động đất, hỏa hoạn lớn, hạn hán kéo dài và các loại thiên tai khác ảnh hưởng trực tiếp và nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh.
2. Dịch bệnh nguy hiểm được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công bố, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và khả năng tài chính của cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động.
3. Tình trạng khẩn cấp theo quy định của pháp luật gây ảnh hưởng đột xuất, bất ngờ đến hoạt động của cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động.
4. Các sự kiện bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật dân sự”.
Đối với bảo hiểm y tế (BHYT), pháp luật cũng quy định tương tự đối với bảo hiểm xã hội (BHXH) và bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) về hành vi chậm đóng và trốn đóng. Cụ thể, Điều 48a và Điều 48b Luật Bảo hiểm y tế được sửa đổi, bổ sung năm 2024 quy định về các trường hợp được xác định là chậm đóng, trốn đóng BHYT.
Như vậy, trong trường hợp này, Công ty đã khấu trừ tiền từ lương (tức đã thu phần trách nhiệm của người lao động) nhưng không nộp trong 6 tháng liên tiếp là hành vi chậm đóng bảo hiểm. Tuy nhiên, người lao động cần tiếp tục theo dõi, nếu sau khi cơ quan BHXH gửi văn bản đôn đốc mà Công ty vẫn không khắc phục trong thời hạn quy định (thường sau 60 ngày kể từ hết hạn hoặc sau đôn đốc) thì hành vi nêu trên sẽ chuyển thành hành vi trốn đóng bảo hiểm. Việc Công ty giải thích “khó khăn nên tạm giữ” không thuộc các lý do theo quy định tại Điều 4 Nghị định 274/2025/NĐ-CP nêu trên để được loại trừ trách nhiệm pháp lý.
Thứ hai, công ty bị xử phạt như thế nào, có phải truy đóng và nộp tiền lãi không?
Đối với trường hợp chậm đóng bảo hiểm thì Công ty sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định 283/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội:
“Điều 43. Vi phạm về chậm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc
[…]
3. Phạt tiền từ 12% đến 15% tổng số tiền chậm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính nhưng tối đa không quá 75.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi chậm đóng bảo hiểm xã hội sau đây:
a) Chưa đóng hoặc đóng chưa đầy đủ số tiền phải đóng theo hồ sơ tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc đã đăng ký kể từ sau ngày đóng bảo hiểm xã hội chậm nhất quy định tại khoản 4 Điều 34 của Luật Bảo hiểm xã hội, trừ trường hợp quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 39 của Luật Bảo hiểm xã hội;
b) Không đóng hoặc đóng không đầy đủ số tiền đã đăng ký bảo hiểm xã hội bắt buộc sau 60 ngày kể từ ngày đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc chậm nhất quy định tại khoản 4 Điều 34 của Luật Bảo hiểm xã hội và đã được cơ quan có thẩm quyền đôn đốc theo quy định tại Điều 35 của Luật Bảo hiểm xã hội nhưng thuộc trường hợp không bị coi là trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của pháp luật.
4. Biện pháp khắc phục hậu quả
[…]
b) Buộc người sử dụng lao động đóng đủ số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc chậm đóng; nộp số tiền bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc chậm đóng và số ngày chậm đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 3 Điều này.”
Ngoài bị xử phạt vi phạm hành chính, theo Luật Bảo hiểm xã hội 2024, Công ty bắt buộc phải đóng đủ số tiền đã chậm trong vòng 6 tháng và lãi tính theo ngày chậm đóng bảo hiểm:
“Điều 40. Biện pháp xử lý hành vi chậm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp
1. Bắt buộc đóng đủ số tiền chậm đóng; nộp số tiền bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp chậm đóng và số ngày chậm đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội, quỹ bảo hiểm thất nghiệp.
2. Xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.
3. Không xem xét trao tặng các danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng.
4. Chính phủ quy định chi tiết khoản 1 Điều này.”
Đối với trường hợp trốn đóng bảo hiểm thì Công ty sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính cũng như phải đóng đủ số tiền trốn đóng và số tiền lãi theo Nghị định 283/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và Luật Bảo hiểm xã hội 2024:
“Điều 44. Vi phạm về trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc
2. Phạt tiền từ 18% đến 20% tổng số tiền trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc nhưng tối đa không quá 75.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội sau đây:
[…]
b) Không đóng hoặc đóng không đầy đủ số tiền đã đăng ký bảo hiểm xã hội bắt buộc sau 60 ngày kể từ ngày đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc chậm nhất quy định tại khoản 4 Điều 34 của Luật Bảo hiểm xã hội và đã được cơ quan có thẩm quyền đôn đốc theo quy định tại Điều 35 của Luật Bảo hiểm xã hội nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
3. Biện pháp khắc phục hậu quả
[…]
b) Buộc người sử dụng lao động đóng đủ số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc trốn đóng; nộp số tiền bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc trốn đóng và số ngày trốn đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều này.”
“Điều 41. Biện pháp xử lý hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp
1. Bắt buộc đóng đủ số tiền trốn đóng; nộp số tiền bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp trốn đóng và số ngày trốn đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội, quỹ bảo hiểm thất nghiệp.
2. Xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
3. Không xem xét trao tặng các danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng.
4. Chính phủ quy định chi tiết khoản 1 Điều này.”
Thêm vào đó, trường hợp hành vi trốn đóng được thực hiện bằng thủ đoạn gian dối hoặc thủ đoạn khác, kéo dài từ 06 tháng trở lên, với số tiền hoặc số lượng người lao động thuộc mức luật định, và đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự:
“Điều 216. Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động
1. Người nào có nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động mà gian dối hoặc bằng thủ đoạn khác để không đóng hoặc không đóng đầy đủ theo quy định từ 06 tháng trở lên thuộc một trong những trường hợp sau đây, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:
a) Trốn đóng bảo hiểm từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng;
b) Trốn đóng bảo hiểm cho từ 10 người đến dưới 50 người lao động.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Phạm tội 02 lần trở lên;
b) Trốn đóng bảo hiểm từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;
c) Trốn đóng bảo hiểm cho từ 50 người đến dưới 200 người;
d) Không đóng số tiền bảo hiểm đã thu hoặc đã khấu trừ của người lao động quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản 1 Điều này.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Trốn đóng bảo hiểm 1.000.000.000 đồng trở lên;
b) Trốn đóng bảo hiểm cho 200 người trở lên;
c) Không đóng số tiền bảo hiểm đã thu hoặc đã khấu trừ của người lao động quy định tại điểm b hoặc điểm c khoản 2 Điều này.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”
Việc Công ty đã khấu trừ tiền bảo hiểm từ tiền lương nhưng không thực hiện đóng đầy đủ cho cơ quan bảo hiểm xã hội là hành vi vi phạm pháp luật. Trước hết, hành vi này được xác định là chậm đóng bảo hiểm xã hội, kéo theo nghĩa vụ truy đóng số tiền còn thiếu và tiền lãi chậm đóng, đồng thời có thể bị xử phạt vi phạm hành chính.
Tuy nhiên, Công ty cũng có thể bị xác định là trốn đóng bảo hiểm xã hội tùy thuộc vào tính chất, thời gian và các điều kiện theo quy định hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm.
Thứ ba, người lao động nên làm gì để bảo đảm quyền lợi của mình?
Trước hết, việc Công ty chậm đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp ảnh hưởng trực tiếp đến quyền hưởng các chế độ bảo hiểm của người lao động. Vì vậy khi phát hiện Công ty vi phạm nghĩa vụ, người lao động nên chủ động trao đổi với người sử dụng lao động để yêu cầu thực hiện truy đóng đầy đủ số tiền bảo hiểm còn thiếu và lãi theo quy định.
Nếu công ty không hợp tác hoặc kéo dài thời gian thực hiện nghĩa vụ của mình thì người lao động có quyền khiếu nại lên cơ quan bảo hiểm xã hội để kiểm tra cũng như đôn đốc việc đóng bảo hiểm và xử lý hành vi vi phạm.
Do đó, người lao động nên chủ động phản ánh kịp thời vụ việc đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được kiểm tra, xác định tình trạng đóng bảo hiểm và có biện pháp bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.