1. Quyền nuôi con khi ly hôn được quy định như thế nào?
Việc ly hôn làm chấm dứt quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng trước pháp luật, đồng thời cũng đặt ra nhiều vấn đề pháp lý cần giải quyết như: chia tài sản, xác định người trực tiếp nuôi con và nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Trong thực tế, khi cha mẹ ly hôn, con cái thường chịu ảnh hưởng tâm lý đáng kể, do đó rất cần được bảo vệ, chăm sóc và nuôi dưỡng trong điều kiện tốt nhất từ cha mẹ sau khi hôn nhân chấm dứt.
Hiện nay, trong các văn bản pháp luật chưa có quy định cụ thể về khái niệm “quyền nuôi con khi ly hôn”. Tuy nhiên, có thể hiểu đây là quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con của một bên vợ hoặc chồng sau khi Tòa án ra quyết định ly hôn. Người được giao quyền này sẽ chịu trách nhiệm toàn diện trong việc bảo đảm sức khỏe, học tập, sự phát triển nhân cách và môi trường sống của con.
Theo Điều 71 Luật hôn nhân và gia đình 2014, cha mẹ có quyền và nghĩa vụ nuôi con trong các trường hợp sau:
+ Đối với con chưa thành niên;
+ Đối với con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Khoản 1 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, việc giải quyết quyền nuôi con khi ly hôn quy định, sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn tiếp tục có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con, bao gồm: con chưa thành niên; con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự; hoặc con không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Quy định này thể hiện rõ một nguyên tắc xuyên suốt: ly hôn không làm chấm dứt trách nhiệm làm cha, làm mẹ.
Như vậy, vấn đề quyền nuôi con sau ly hôn chỉ đặt ra đối với:
+ Con chưa thành niên;
+ Con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự;
+ Con không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Ngược lại, trong trường hợp con đã thành niên, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và có khả năng tự lập về kinh tế, thì pháp luật không đặt ra việc giải quyết quyền nuôi con khi ly hôn.
Từ đó, có thể khái quát một số đặc điểm của quyền nuôi con khi ly hôn như sau:
Thứ nhất, đây là quyền gắn liền với nghĩa vụ của cha mẹ đối với con cái, không thể chuyển giao cho người khác và không chấm dứt khi quan hệ hôn nhân chấm dứt.
Thứ hai, quyền này chỉ phát sinh trong những trường hợp nhất định, bao gồm: con chưa thành niên; hoặc con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động hoặc không có tài sản để tự nuôi mình.
2. Điều kiện để giành quyền nuôi con gồm những gì?
Vấn đề trao quyền trực tiếp nuôi dưỡng con cho ai luôn là một nội dung quan trọng trong các vụ án ly hôn, có ý nghĩa quyết định đối với cuộc sống và tương lai của các con. Bởi vì, người trực tiếp nuôi con là người cùng sống với con trong một mái nhà, có ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển về nhân cách, trí tuệ, thể chất của trẻ. Một quyết định sai lầm khi giao con cho người kia nuôi có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng không thể khắc phục được. Vì vậy, dù việc giao con cho ai nuôi dưỡng, giáo dục trực tiếp là sự thỏa thuận của cha mẹ hay quyết định của Tòa án thì đều phải được xem xét một cách toàn diện và cẩn trọng, phải đảm bảo được lợi ích tốt nhất cho con cái.
Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn như sau:
“1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.
2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.”.
Đối với việc xác định người trực tiếp nuôi con, pháp luật ưu tiên sự thỏa thuận giữa vợ và Đối với việc xác định người trực tiếp nuôi con, pháp luật ưu tiên sự thỏa thuận giữa vợ và chồng. Trường hợp hai bên có thể thống nhất được người nuôi con và bảo đảm quyền lợi của con, Tòa án sẽ công nhận sự thỏa thuận đó. Nếu cha mẹ không đạt được sự đồng thuận, Tòa án sẽ quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi dưỡng trên cơ sở bảo đảm tốt nhất cho sự phát triển toàn diện của con. Việc xác định này còn phụ thuộc vào độ tuổi của con, theo đó đối với con từ đủ 07 tuổi trở lên, Tòa án phải xem xét nguyện vọng của con trước khi đưa ra quyết định; còn đối với con dưới 36 tháng tuổi, thông thường sẽ được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.
Các điều kiện có thể được Tòa án xem xét như:
Thứ nhất, về tình cảm, sự quan tâm yêu thương và điều kiện về thời gian chăm sóc, giáo dục lo lắng của cha mẹ với con
Vấn đề tình cảm trong quá trình phát triển của trẻ là là một nhân tố quan trọng góp phần hình thành nhân cách của con. Thực tế cho thấy cha mẹ có thực sự quan tâm, yêu thương con thật lòng thì mới có thể dành nhiều thời gian, công sức để chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục con. Sự quan tâm, chăm lo không phải ngày một ngày hai mà phải diễn ra trong thời gian dài và đòi hỏi sự kiên trì nhẫn nại của cha và mẹ. Như vậy, các tài liệu, bằng chứng chứng minh sự quan tâm lo lắng của cha mẹ với con trước khi ly hôn là một trong các chứng cứ để Toà án xem xét giải quyết, đó có thể là hình ảnh, video chụp đưa đón con đi học, họp phụ huynh, ảnh chụp khi đưa con đi chơi, quá trình chăm sóc con, ...
Thứ hai, điều kiện về vật chất
Đây là các tài liệu chứng minh nguồn thu nhập ổn định, hợp pháp của cha, mẹ. Đó có thể là thu nhập từ lao động như: Hợp đồng lao động, sao kê bảng lương, sao kê tài khoản lương. Thu nhập từ các nguồn khác như: Sổ tiết kiệm, Chứng nhận cổ phần cổ phiếu, trái phiếu, cho thuê tài sản…
Thứ ba, điều kiện về chỗ ở
Một trong những điều kiện khi chứng minh điều kiện nuôi con đó là chỗ ở của mỗi bên vợ chồng sau ly hôn. Quy định của pháp luật không có quy định bắt buộc là người nhận nuôi con phải có tài sản riêng là Nhà đất thì mới được nuôi con, tuy nhiên nếu đặt trong tình huống vợ chồng đều muốn giành quyền nuôi con trong khi các điều kiện khác của hai bên là như nhau thì quyền trực tiếp nuôi con sẽ được Toà án ưu tiên giao cho người có điều kiện về chỗ ở ổn định. Điều này xuất phát từ thực tế, nếu một người không có nơi cư trú cố định nay đây mai đó và thường xuyên phải thay đổi chỗ ở sẽ ảnh hưởng đến việc sinh hoạt và học tập của con.
Thứ tư, điều kiện về thời gian chăm sóc, giáo dục
Việc nuôi dưỡng chăm sóc và giáo dục con cần rất nhiều thời gian và công sức. Ở các độ tuổi khác nhau các con có sự thay đổi về nhận thức, tâm lý và tình cảm của con trẻ, do đó yêu cầu người trực tiếp nuôi con phải dành thời gian quan tâm, quan sát để kịp thời giáo dục dạy dỗ các con. Nếu một người làm các công việc có tính chất đặc thù như thường xuyên vắng nhà vì phải đi công trình, đi công tác dài ngày, lái xe đường dài, hoặc người đó làm công việc quá bận rộn mất nhiều thời gian thì sẽ không có điều kiện về thời gian để chăm sóc giáo dục con.
Thứ năm, về môi trường sống và sinh hoạt
Môi trường sống của con người nói chung bao gồm gia đình, nhà trường và xã hội có ảnh hưởng rất lớn đến tính cách, nhận thức của con người. Đối với con trẻ môi trường của chúng là gia đình và nhà trường và môi trường này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tính cách, tình cảm của con. Do đó trường hợp một bên cha hoặc mẹ sống lành mạnh và bên thì hoàn toàn ngược lại. Căn cứ vào các quyền lợi mọi mặt của con, Toà án sẽ Quyết định giao con cho thì sẽ ảnh hưởng không tốt cho con trẻ.
Thứ sáu, điều kiện, khả năng của cha, mẹ trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, bao gồm cả khả năng bảo vệ con khỏi bị xâm hại, bóc lột:
+ Quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi, được duy trì mối quan hệ với người cha, mẹ không trực tiếp nuôi.
+ Sự gắn bó, thân thiết của con với cha, mẹ.
+ Sự quan tâm của cha, mẹ đối với con.
+ Bảo đảm sự ổn định, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống, giáo dục của con.
+ Nguyện vọng của con được ở cùng với anh, chị, em (nếu có) để bảo đảm ổn định tâm lý và tình cảm của con.
+ Nguyện vọng của con được sống chung với cha hoặc mẹ.
Việc xác định người trực tiếp nuôi con sau ly hôn luôn dựa trên nguyên tắc bảo đảm lợi ích tốt nhất của con. Điều này cho thấy quyền nuôi con không đơn thuần là quyền lợi của cha hoặc mẹ, mà trước hết phải xuất phát từ nhu cầu và điều kiện phát triển toàn diện của trẻ. Quyền nuôi con khi ly hôn không mang tính tuyệt đối. Người được giao nuôi con có thể bị thay đổi theo quyết định của Tòa án nếu không còn đáp ứng được các điều kiện bảo đảm quyền lợi của con.
Như vậy, quyền nuôi dưỡng con khi ly hôn vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ pháp lý của cha mẹ đối với con, đồng thời là cơ chế quan trọng nhằm bảo đảm cho trẻ em đối tượng dễ bị tổn thương nhất trong quan hệ hôn nhân và gia đình được chăm sóc, bảo vệ và phát triển toàn diện, ngay cả khi cha mẹ không còn chung sống với nhau.
3. Có được cản trở quyền thăm con không?
Người không trực tiếp nuôi dưỡng con có các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 82 Luật HN & GĐ bao gồm:
“1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.
3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.”
Thăm nom con là một quyền cơ bản của người không trực tiếp nuôi con. Pháp luật quy định quyền này có ý nghĩa quan trọng đối với cả người con và người không trực tiếp nuôi dưỡng. Quy định này nhằm bảo đảm cho trẻ được hưởng sự yêu thương, chăm sóc từ cả cha và mẹ, đồng thời tạo điều kiện để con được thường xuyên gặp gỡ, tiếp xúc với người cha hoặc người mẹ không sống cùng mình.
Quyền thăm nom con là một quyền nhân thân của người không trực tiếp nuôi con, vì vậy không ai được cản trở việc thực hiện quyền này. Người trực tiếp nuôi con và các cá nhân khác có nghĩa vụ tôn trọng quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con.
Để bảo đảm quyền này được thực hiện trên thực tế và đồng thời bảo vệ quyền lợi của trẻ em, pháp luật đã có quy định xử lý đối với hành vi cản trở. Cụ thể, theo Điều 42 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP, hành vi ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa cha, mẹ và con (cũng như giữa các chủ thể khác trong gia đình) có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng, trừ trường hợp cha, mẹ bị hạn chế quyền thăm nom con theo quyết định của Tòa án.
Trong trường hợp có hành vi cản trở quyền thăm nom, đây cũng có thể được xem là một trong những căn cứ, chứng cứ để Tòa án xem xét thay đổi người trực tiếp nuôi con trong tương lai, nếu việc cản trở đó ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ.
Ngược lại, người trực tiếp nuôi con cũng không được cản trở người không trực tiếp nuôi con thực hiện nghĩa vụ và quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con. Tuy nhiên, trong trường hợp “cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó”. Pháp luật quy định chỉ có Tòa án mới có thẩm quyền tuyên bố hạn chế quyền thăm nom con của người có hành vi lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến con.
Để không làm ảnh hưởng đến việc học tập, sinh hoạt, cuộc sống của con thì người không trực tiếp nuôi con cần phải thỏa thuận với người trực tiếp nuôi con về thời gian, địa điểm thăm con, báo trước cho người trực tiếp nuôi con nếu muốn thăm con không theo thời gian, địa điểm đã thỏa thuận trước.
4. Nghĩa vụ cấp dưỡng cho con
Nghĩa vụ cấp dưỡng nhằm đảm bảo quyền được nuôi dưỡng của trẻ em, là trách nhiệm của cha, mẹ đối với con. Khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nhằm góp phần đề cao trách nhiệm của cha mẹ trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng con cái.
Mức cấp dưỡng do cha mẹ thỏa thuận, căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người phải cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của con. Trường hợp cha, mẹ không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Mức cấp dưỡng có thể thay đổi theo sự thỏa thuận của các bên hoặc theo quyết định của Tòa án khi có lý do chính đáng theo quy định tại khoản 2 Điều 116 Luật Hôn nhân và Gia Đình 2014. Quy định này là hoàn toàn phù hợp, bởi mức cấp dưỡng thường được xác định dựa trên điều kiện thực tế tại thời điểm ly hôn. Sau đó, các điều kiện này có thể thay đổi, nên mức cấp dưỡng cũng cần được điều chỉnh để bảo đảm phù hợp với nhu cầu sinh hoạt, học tập và chăm sóc sức khỏe của con.
Tại khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định: “Tiền cấp dưỡng cho con là toàn bộ chi phí cho việc nuôi dưỡng, học tập của con và do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định mức cấp dưỡng căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng. Mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con.”
Đối với trường hợp các bên tự thỏa thuận về mức cấp dưỡng và đề nghị Tòa án ghi nhận, cần đặt ra vấn đề về việc Tòa án có nên xem xét tính phù hợp của mức cấp dưỡng đó hay không. Trên thực tế, không ít trường hợp các bên thỏa thuận mức cấp dưỡng thấp hơn đáng kể so với nhu cầu thiết yếu của con cũng như khả năng tài chính của người có nghĩa vụ cấp dưỡng. Những thỏa thuận như vậy có thể không bảo đảm điều kiện sống, học tập và phát triển của trẻ trong bối cảnh kinh tế – xã hội hiện nay.
Do đó, trong quá trình giải quyết, Tòa án cần xem xét, đánh giá toàn diện để đưa ra quyết định phù hợp, nhằm bảo đảm tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của con. Trường hợp các bên không thỏa thuận được về mức cấp dưỡng, Tòa án sẽ quyết định nhưng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người có nghĩa vụ cấp dưỡng cư trú, tính cho mỗi tháng đối với mỗi người con.
5. Quyền của người trực tiếp nuôi con
Điều 83 Luật HN&GĐ quy định: “1. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật này; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.”
Vì lợi ích của con, người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện đầy đủ nghĩa vụ cấp dưỡng theo bản án có hiệu lực pháp luật. Quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng là một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo vệ quyền lợi của con.
Trên thực tế, nhiều trường hợp người không trực tiếp nuôi con cố tình trì hoãn hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, dẫn đến gánh nặng kinh tế dồn hoàn toàn lên người trực tiếp nuôi con. Khi đó, người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành, thậm chí có thể đề nghị xử lý vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự nếu hành vi trốn tránh kéo dài, gây hậu quả nghiêm trọng.
Bên cạnh đó, quyền yêu cầu tôn trọng quyền nuôi con cũng có ý nghĩa rất lớn trong thực tiễn. Không ít trường hợp, dù không trực tiếp nuôi con nhưng một bên hoặc các thành viên gia đình lại có hành vi can thiệp sâu vào việc chăm sóc, giáo dục con, thậm chí gây áp lực, tranh giành hoặc làm xáo trộn môi trường sống của trẻ. Quy định này nhằm khẳng định rằng người trực tiếp nuôi con có quyền quyết định các vấn đề liên quan đến đời sống hằng ngày của con, miễn là bảo đảm lợi ích của trẻ.
Như vậy, Điều 83 không chỉ điều chỉnh quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ, mà còn hướng tới một mục tiêu lớn hơn, đó là bảo đảm môi trường phát triển ổn định, hài hòa cho trẻ sau ly hôn. Việc thực hiện đúng các quy định này sẽ góp phần hạn chế tranh chấp phát sinh và bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của con – chủ thể trung tâm trong các vụ việc ly hôn.
6. Có thể thay đổi quyền nuôi con không?
Câu trả lời là có. Tuy nhiên, việc thay đổi người trực tiếp nuôi con không phải được thực hiện một cách tùy ý, mà phải đáp ứng các điều kiện chặt chẽ theo quy định của pháp luật, cụ thể là Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
Trước hết, cần khẳng định rằng việc thay đổi người trực tiếp nuôi con chỉ được Tòa án chấp nhận khi có căn cứ chứng minh việc thay đổi là cần thiết và phù hợp với lợi ích tốt nhất của con. Đây là nguyên tắc xuyên suốt trong toàn bộ các quy định liên quan đến con chung sau ly hôn.
Theo đó, các căn cứ pháp lý để Tòa án xem xét thay đổi người trực tiếp nuôi con bao gồm:
+ Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con: Tuy nhiên, thỏa thuận này không đương nhiên được chấp nhận mà phải được Tòa án xem xét trên cơ sở có bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của con hay không.
+ Người đang trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện: Đây là căn cứ phổ biến nhất trong thực tiễn. Việc “không đủ điều kiện” có thể được hiểu trên nhiều phương diện như: điều kiện kinh tế suy giảm nghiêm trọng, không còn thời gian chăm sóc con, môi trường sống không phù hợp, hoặc có hành vi vi phạm nghĩa vụ chăm sóc, giáo dục con.
+ Có hành vi ảnh hưởng xấu đến con: Ví dụ như bạo lực, bỏ bê, lối sống không lành mạnh, hoặc cản trở quyền thăm nom của bên còn lại, làm ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý và nhân cách của trẻ. Đây là căn cứ mang tính “định tính” nhưng lại có giá trị rất lớn nếu có chứng cứ chứng minh.
Khi giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, Tòa án bắt buộc phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên. Đây là một yếu tố quan trọng, thể hiện sự tôn trọng quyền của trẻ em trong các quyết định liên quan trực tiếp đến cuộc sống của mình. Một điểm cần lưu ý là, việc thay đổi người trực tiếp nuôi con không làm chấm dứt nghĩa vụ của cha, mẹ đối với con. Dù ai là người trực tiếp nuôi dưỡng, thì bên còn lại vẫn phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ cấp dưỡng và tôn trọng quyền của con.
Như vậy, có thể thấy rằng pháp luật cho phép thay đổi quyền nuôi con sau ly hôn, nhưng đặt ra cơ chế kiểm soát chặt chẽ nhằm tránh việc lạm dụng quyền này để gây bất ổn cho cuộc sống của trẻ. Mọi quyết định thay đổi đều phải hướng đến mục tiêu cao nhất là bảo đảm sự phát triển ổn định, toàn diện của con.
7. Kinh nghiệm thực tế để giành quyền nuôi con
Trong các vụ tranh chấp quyền nuôi con, yếu tố quyết định không nằm ở việc “ai muốn nuôi”, mà là ai chứng minh được mình bảo đảm tốt nhất quyền lợi của con. Vì vậy, việc chuẩn bị chứng cứ và cách ứng xử trong quá trình giải quyết vụ án có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Một là, chuẩn bị đầy đủ chứng cứ về điều kiện kinh tế và nghề nghiệp.
Người có yêu cầu cần cung cấp các tài liệu như hợp đồng lao động, sao kê lương, tài sản, chỗ ở ổn định… nhằm chứng minh khả năng bảo đảm điều kiện vật chất cho con. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng yếu tố kinh tế không phải là yếu tố duy nhất, mà chỉ là một trong nhiều tiêu chí để Tòa án xem xét.
Hai là, chứng minh khả năng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con.
Cần làm rõ thời gian dành cho con, quá trình trực tiếp nuôi dưỡng trước đó cũng như sự gắn bó tình cảm giữa cha, mẹ và con. Trong nhiều trường hợp, đây là yếu tố mang tính quyết định, đặc biệt đối với trẻ nhỏ hoặc cần sự chăm sóc thường xuyên.
Ba là, cung cấp tài liệu về môi trường sống và học tập của con.
Các yếu tố như điều kiện nhà ở, khoảng cách đến trường, môi trường sinh hoạt, sự hỗ trợ từ gia đình (ông bà, người thân)… sẽ giúp Tòa án đánh giá toàn diện về điều kiện phát triển của trẻ.
Bốn là, thời gian và khả năng trực tiếp chăm sóc con.
Tòa án đặc biệt coi trọng việc ai là người có điều kiện thực tế để ở bên con nhiều hơn. Một người có thu nhập cao nhưng thường xuyên vắng nhà, không có thời gian chăm sóc con, chưa chắc đã có lợi thế bằng người có thu nhập ổn định nhưng có nhiều thời gian gần gũi, chăm sóc con hằng ngày.
Năm là, yếu tố tình cảm và sự gắn bó với con.
Sự gắn bó giữa cha/mẹ và con là yếu tố rất quan trọng, đặc biệt đối với trẻ nhỏ. Người nào chứng minh được mình là người trực tiếp chăm sóc con từ trước đến nay, hiểu rõ thói quen, tâm lý, nhu cầu của con thì sẽ có lợi thế lớn. Đây là yếu tố mang tính “mềm” nhưng lại có giá trị rất cao trong đánh giá của Tòa án.
Sáu là, tránh các hành vi bất lợi trong quá trình giải quyết tranh chấp.
Không nên nói xấu, bôi nhọ bên còn lại trước Tòa hoặc trước con, vì điều này không có giá trị chứng minh mà còn có thể bị đánh giá là ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý của trẻ. Đồng thời, cần tránh việc gây áp lực tâm lý cho con, ép buộc con lựa chọn hoặc khai báo theo ý mình, bởi Tòa án luôn đặt lợi ích và sự ổn định tâm lý của trẻ lên hàng đầu.
Thực tiễn xét xử cho thấy, những người thể hiện được sự ổn định, trách nhiệm và tôn trọng quyền lợi của con thường có lợi thế hơn so với những người chỉ tập trung vào việc tranh giành quyền nuôi con xuất phát từ mâu thuẫn cá nhân.
8. Các câu hỏi liên quan
Thu nhập cao có chắc chắn giành được quyền nuôi con không? Không. Thu nhập chỉ là một trong nhiều yếu tố. Một người có thời gian chăm sóc, môi trường sống ổn định và gắn bó với con vẫn có lợi thế hơn người có thu nhập cao nhưng ít thời gian.
Có được cấm cha/mẹ không trực tiếp nuôi con gặp con không? Không. Người không trực tiếp nuôi con vẫn có quyền thăm nom con. Việc cản trở có thể bị xử phạt hành chính, trừ trường hợp Tòa án có quyết định hạn chế quyền thăm nom.
Khi ly hôn, có bắt buộc phải cấp dưỡng nuôi con không? Có. Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng để đảm bảo điều kiện sinh hoạt và học tập cho con.
Mức cấp dưỡng nuôi con được xác định như thế nào? Mức cấp dưỡng do hai bên thỏa thuận dựa trên:
+ Thu nhập của người cấp dưỡng
+ Nhu cầu thiết yếu của con
Nếu không thỏa thuận được, Tòa án sẽ quyết định nhưng không thấp hơn mức tối thiểu theo quy định pháp luật.
Có nên tranh giành quyền nuôi con bằng mọi cách không? Không nên. Tòa án đánh giá rất cao sự ổn định, trách nhiệm và thái độ hợp tác. Việc gây áp lực cho con hoặc nói xấu bên kia có thể làm bạn mất lợi thế.
Sau ly hôn, người trực tiếp nuôi con có toàn quyền quyết định mọi việc không? Có được đưa con định cư ở nước ngoài? Người trực tiếp nuôi con có quyền quyết định các vấn đề hằng ngày của con, nhưng vẫn phải tôn trọng quyền thăm nom, chăm sóc của người còn lại.Đối với việc đưa con định cư ở nước ngoài, đây là vấn đề quan trọng phải có sự đồng ý của cha/mẹ còn lại. Việc đồng ý này cần được lập thành văn bản và công chứng, chứng thực theo quy định.