1. Thẩm quyền giải quyết và thủ tục hòa giải khi đơn phương ly hôn
Theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo thủ tục vụ án dân sự. Đồng thời, theo quy định tại Điều 52 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, trong quá trình giải quyết ly hôn, Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải nhằm tạo điều kiện để vợ chồng đoàn tụ nếu còn khả năng hàn gắn. Do đó, khi tham gia tố tụng, các bên cần chuẩn bị nội dung trình bày phù hợp với vị trí pháp lý của mình.
Trường hợp là nguyên đơn yêu cầu ly hôn, cần nêu rõ các mâu thuẫn phát sinh trong đời sống vợ chồng, mức độ trầm trọng của quan hệ hôn nhân và chứng minh rằng mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài theo tiêu chí quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 để làm căn cứ đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn. Ngược lại, nếu là bị đơn mong muốn đoàn tụ, cần thể hiện rõ thiện chí thông qua việc trình bày nguyên nhân mâu thuẫn, đề xuất hướng khắc phục, cam kết sửa đổi, đồng thời có thể gửi đơn đề nghị đoàn tụ để Tòa án xem xét không chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.
Việc trình bày đầy đủ, đúng trọng tâm và bám sát các căn cứ pháp lý nêu trên là yếu tố quan trọng để Tòa án đánh giá tình trạng hôn nhân và đưa ra quyết định phù hợp theo quy định pháp luật.
Trường hợp hòa giải thành, Tòa án lập biên bản hòa giải thành và ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. Theo Khoản 5 Điều 211 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, khi các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, Tòa án lập biên bản hòa giải thành và gửi ngay cho các bên. Sau thời hạn 07 ngày kể từ ngày lập biên bản mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến, Tòa án sẽ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
Trường hợp hòa giải không thành, Tòa án lập biên bản hòa giải không thành và quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật. Khi đó, việc giải quyết yêu cầu ly hôn phải căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, theo đó Tòa án chỉ chấp nhận cho ly hôn khi có căn cứ cho thấy quan hệ hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc đánh giá này dựa trên bản chất của quan hệ hôn nhân đã tan vỡ, không đơn thuần dựa trên việc xác định lỗi của một bên vợ hoặc chồng.
2. Về tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
Luật HN & GĐ 2014 đã dự liệu hai chế độ tài sản của vợ chồng:
+ Chế độ tìa sản của vợ chồng theo thoả thuận
+ Chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định.
Vậy nên, tuỳ từng trường hợp vợ, chồng lựa chọn chế độ tài sản nào mà áp dụng các quy định pháp luật tương ứng.
Thứ nhất, đối với trường hợp vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận, về bản chất, văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng là một dạng hợp đồng dân sự, được xác lập trước khi kết hôn và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký kết hôn. Khi văn bản này có hiệu lực pháp luật, việc xác định và phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn sẽ được thực hiện theo nội dung thỏa thuận đã được các bên xác lập.
Thực tiễn áp dụng cho thấy, kể từ khi Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 có hiệu lực đến nay, ngày càng có nhiều cặp vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận, và Tòa án đã căn cứ vào các văn bản này để giải quyết việc chia tài sản trong nhiều vụ án ly hôn. Tuy nhiên, trong trường hợp có văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản nhưng văn bản này bị tuyên vô hiệu, thì việc xác định và phân chia tài sản của vợ chồng sẽ được chuyển sang áp dụng chế độ tài sản theo luật định.
Thứ hai, đối với tường hợp vợ, chồng lựa chọn chế độ tài sản luật định.
Theo quy định, nguyên tắc chung về chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn theo quy định từ Điều 59 đến Điều 64 Luật HN & GĐ 2014, theo đó, việc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn, trước hết cũng do hai vợ chồng tự thỏa thuận với nhau; nếu không thỏa thuận được hoặc sự thỏa thuận không bảo đảm được quyền, lợi ích chính đáng của vợ và con thì Tòa án sẽ quyết định theo các nguyên tắc:
Một là, tài sản riêng của bên nào vẫn thuộc quyền sở hữu của bên đó. Trường hợp có tranh chấp về quyền sở hữu, người có tài sản riêng phải có nghĩa vụ chứng minh; nếu không chứng minh được thì coi là tài sản chung để chia.
Hai là, tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
+ Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
+ Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
+ Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
+ Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng;
+ Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch;
+ Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác;
+ Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Cần lưu ý, theo luật định, quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba vẫn có hiệu lực sau khi ly hôn, trừ trường hợp vợ chồng và người thứ ba có thỏa thuận khác.
3. Về nghĩa vụ, quyền của cha mẹ và con sau khi ly hôn
Tranh chấp về quyền nuôi con khi ly hôn thường phát sinh do mâu thuẫn giữa vợ chồng không được giải quyết, dẫn đến việc các bên khó thống nhất về người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên khi thực hiện đơn phương ly hôn.
Các nguyên tắc luật định được áp dụng gồm: (i) dù vợ chồng ly hôn, với tư cách là cha, mẹ thì vẫn có đầy đủ quyền và nghĩa vụ đối với con chung; (ii) dù cha mẹ ly hôn vẫn phải bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của con; (iii) người không trực tiếp nuôi con vẫn có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con và có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Việc giải quyết hậu quả pháp lý đối với con khi cha mẹ ly hôn thường tập trung vào hai vấn đề chủ yếu là: giao con chưa thành niên (hoặc con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình) cho một bên trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; và xác định mức cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con vẫn có quyền thăm nom, chăm sóc con theo quy định tại Điều 81 đến Điều 84 Luật HN & GĐ 2014, theo đó:
4. Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con
Về nghĩa vụ cấp dưỡng, phương thức thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng sau khi ly hôn do hai bên tự thỏa thuận trên nguyên tắc bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của con. Trường hợp cha mẹ không thỏa thuận được thì Tòa án sẽ quyết định theo yêu cầu của các bên. Khi xác định mức cấp dưỡng để nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con, Tòa án căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của con; đồng thời, xem xét điều kiện kinh tế tại địa phương nơi đương sự cư trú để quyết định mức cấp dưỡng phù hợp. Theo quy định tại Điều 116 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng thỏa thuận, căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể được thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
Một số câu hỏi Câu hỏi thường gặp