Điều 22 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về việc mất năng lực hành vi dân sự:
“Điều 22. Mất năng lực hành vi dân sự
1. Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.
Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.
2. Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện."
Như vậy, cơ sở để xác định một người mất năng lực hành vi dân sự phải đảm bảo các điều kiện:
Thứ nhất, người đó mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác và những bệnh này làm cho chủ thể mắc bệnh mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Thứ hai, phải có yêu cầu của người có quyền và lợi ích liên quan của người đó hoặc tổ chức, cơ quan hữu quan yêu cầu Tòa án tuyên bố người bị mắc các bệnh nói trên là mất năng lực hành vi dân sự.
Thứ ba, phải có kết luận của tổ chức giám định pháp y tâm thần về việc người bị yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự đã mắc bệnh đến mức không thể nhận thức và điều khiển hành vi của mình chưa.
Điều 376 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định về quyền yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự như sau:
“Điều 376. Quyền yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
1. Người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổ chức hữu quan có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định của Bộ luật dân sự.
2. Người thành niên không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi do tình trạng thể chất, tinh thần nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố họ là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định của Bộ luật dân sự.”
Như vậy, người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổ chức hữu quan có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự theo đúng quy định của Bộ luật Dân sự.
Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định về thẩm quyền như sau:
“Điều 27. Những yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
3. Yêu cầu tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích.”
Khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại tòa án 2025 có hiệu lực từ ngày 01/07/2025 sửa đổi Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự như sau:
“Điều 35. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực
Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này; giải quyết những yêu cầu quy định tại các điều 27, 29, 31 và 33 của Bộ luật này, trừ yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của một số Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo quy định tại khoản 2 Điều 37 của Bộ luật này.”
“Điều 39. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ
2. Thẩm quyền giải quyết việc dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:
a) Tòa án nơi người bị yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi;”
Như vậy, Tòa án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự là Tòa án nhân dân khu vực nơi người bị yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự cư trú, làm việc.
Hồ sơ yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự bao gồm:
Theo Điều 363, 365, 376, 377 và Điều 378 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, có thể khái quát trình tự, thủ tục yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự như sau:
Bước 1: Chuẩn bị hồ sơ yêu cầu. Người có yêu cầu có thể nộp hồ sơ trực tiếp hoặc gửi qua đường bưu điện đến Tòa án nhân dân có thẩm quyền.
Bước 2: Nộp hồ sơ yêu cầu tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền.
Bước 3: Thụ lý đơn yêu cầu và thông báo nộp tạm ứng án phí.
Bước 4: Chuẩn bị xét đơn yêu cầu
Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, theo đề nghị của người yêu cầu, Tòa án có thể trưng cầu giám định sức khỏe, bệnh tật của người bị yêu cầu tuyên bố bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc giám định pháp y tâm thần đối với người bị yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Trong trường hợp này, khi nhận được kết luận giám định, Tòa án phải ra quyết định mở phiên họp để xét đơn yêu cầu.
Bước 5: Mở phiên họp để xét đơn yêu cầu
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định mở phiên họp thì Thẩm phán phải mở phiên họp xét đơn yêu cầu. Phiên họp phải triệu tập đầy đủ các thành phần cơ bản, người yêu cầu và những người có quyền và nghĩa vụ liên quan được triệu tập.
Phiên họp được tiến hành theo trình tự, thủ tục quy định tại Điều 369 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Trong phiên họp này, Thẩm phán, Hội đồng giải quyết xem xét, quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người có mất năng lực hành vi dân sự hay không.
Bước 6: Quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự
Trường hợp chấp nhận đơn yêu cầu thì Tòa án ra quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự.
Nếu xét thấy đơn yêu cầu và tài liệu, chứng cứ kèm theo đã đủ điều kiện thụ lý thì Thẩm phán thông báo cho người yêu cầu về việc nộp lệ phí trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo nộp lệ phí, trừ trường hợp người đó được miễn hoặc không phải nộp lệ phí theo quy định của pháp luật về phí, lệ phí; Tòa án thụ lý đơn yêu cầu khi người yêu cầu nộp cho Tòa án biên lai thu tiền lệ phí yêu cầu giải quyết việc dân sự;
Trường hợp người yêu cầu được miễn hoặc không phải nộp lệ phí thì Thẩm phán thụ lý việc dân sự kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu. Các trường hợp này được quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.
Theo quy định Điều 53 Bộ luật Dân sự, trường hợp không có người giám hộ theo quy định tại khoản 2 Điều 48 của Bộ luật Dân sự thì người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự được xác định như sau:
Thứ nhất, người giám hộ của người mất năng lực hành vi dân sự có các nghĩa vụ sau đây:
Thứ hai, quyền của người giám hộ bao gồm: