Điều 117 Bộ luật lao động 2019 định nghĩa: “Kỷ luật lao động là những quy định về việc tuân theo thời gian, công nghệ và điều hành sản xuất, kinh doanh do người sử dụng lao động ban hành trong nội quy lao động và do pháp luật quy định.”.
Như vậy, xử lý kỷ luật lao động là việc người sử dụng lao động áp dụng các hình thức kỷ luật theo quy định pháp luật và nội quy lao động đối với người lao động có hành vi vi phạm kỷ luật lao động, nhằm đảm bảo trật tự, kỷ cương trong doanh nghiệp và nâng cao ý thức tuân thủ của người lao động.
Căn cứ Điều 124 Bộ luật Lao động 2019, có 04 hình thức xử lý kỷ luật lao động, bao gồm:
Trong đó, sa thải là hình thức xử lý kỷ luật lao động nghiêm khắc nhất, dẫn đến việc chấm dứt quan hệ lao động. Vì vậy, pháp luật quy định rất chặt chẽ và chỉ cho phép áp dụng hình thức kỷ luật lao động sa thải khi người lao động thuộc một trong các trường hợp sau:
Khi xử lý kỷ luật lao động, người sử dụng lao động cần đảm bảo việc xử lý kỷ luật lao động không được:
Bên cạnh các hình vi bị nghiêm cấm ở trên, người lao động còn cần phải tuân thủ các nguyên tắc sau khi xử lý kỷ luật lao động:
Thứ nhất, chỉ được xử lý kỷ luật lao động khi:
Thứ hai, không được áp dụng nhiều hình thức xử lý kỷ luật lao động đối với một hành vi vi phạm kỷ luật lao động;
Thứ ba, khi một người lao động đồng thời có nhiều hành vi vi phạm kỷ luật lao động thì chỉ áp dụng hình thức kỷ luật cao nhất tương ứng với hành vi vi phạm nặng nhất.
Các nguyên tắc này không chỉ mang tính hình thức mà nhằm đảm bảo tính hợp pháp, công bằng và minh bạch trong toàn bộ quá trình xử lý kỷ luật lao động. Ví dụ, việc yêu cầu chứng minh lỗi, có sự tham gia của tổ chức đại diện người lao động và đảm bảo quyền bào chữa giúp tránh tình trạng xử lý cảm tính, một chiều từ phía doanh nghiệp. Như vậy, các nguyên tắc này đóng vai trò là “hàng rào pháp lý” giúp cân bằng lợi ích giữa người sử dụng lao động và người lao động, đồng thời giảm thiểu rủi ro tranh chấp và đảm bảo tính bền vững trong quản trị nhân sự của doanh nghiệp.
Bên cạnh việc phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản, pháp luật lao động còn quy định rõ các trường hợp không được xử lý kỷ luật lao động nhằm bảo vệ quyền lợi của người lao động trong những tình huống đặc biệt. Cụ thể, Điều 112 Bộ luật lao động 2019 quy định người sử dụng lao động không được xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động đang trong thời gian sau đây:
Ngoài ra, người sử dụng lao động cũng không xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động vi phạm kỷ luật lao động trong khi mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình.
Quy định này nhằm đảm bảo tính nhân đạo và công bằng trong quan hệ lao động, khi người lao động đang ở trong những hoàn cảnh đặc biệt không đủ điều kiện về thể chất hoặc tinh thần để tự bảo vệ quyền lợi của mình. Đồng thời, việc tạm hoãn hoặc không xử lý kỷ luật trong các trường hợp này cũng giúp đảm bảo tính khách quan, chính xác trong việc xác định hành vi vi phạm, tránh việc doanh nghiệp đưa ra quyết định vội vàng, thiếu căn cứ.

Căn cứ Điều 122 Bộ luật lao động 2019, Điều 70 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, việc xử lý kỷ luật lao động của người sử dụng lao động cần được thực hiện theo trình tự, thủ tục sau đây:
Bước 1: Xác định và chứng minh hành vi vi phạm của người lao động
Người sử dụng lao động cần thu thập chứng cứ chứng minh lỗi của của người lao động liên quan đến hành vi vi phạm kỷ luật của người lao động.
Lưu ý: Người sử dụng lao động có quyền tạm đình chỉ công việc của người lao động khi vụ việc vi phạm có những tình tiết phức tạp nếu xét thấy để người lao động tiếp tục làm việc sẽ gây khó khăn cho việc xác minh. Thời hạn tạm đình chỉ công việc không được quá 15 ngày, trường hợp đặc biệt không được quá 90 ngày.
Việc tạm đình chỉ công việc của người lao động chỉ được thực hiện sau khi tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở mà người lao động đang bị xem xét tạm đình chỉ công việc là thành viên.
Bước 2: Thông báo triệu tập họp xử lý kỷ luật lao động
Người sử dụng lao động cần tiến hành họp xử lý kỷ luật lao động trong thời hiệu 06 tháng kể từ ngày xảy ra hành vi vi phạm. Trường hợp hành vi vi phạm liên quan trực tiếp đến tài chính, tài sản, tiết lộ bí mật công nghệ, bí mật kinh doanh của người sử dụng lao động thì thời hiệu xử lý kỷ luật lao động là 12 tháng.
Ít nhất 05 ngày làm việc trước ngày tiến hành họp xử lý kỷ luật lao động, người sử dụng lao động phải thông báo về việc tổ chức cuộc họp xử lý kỷ luật lao động đến các thành phần dự họp, bao gồm tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở và người lao động vi phạm, cùng người đại diện của người lao động vi phạm (nếu có).
Nội dung thông báo phải bao gồm: thời gian, địa điểm tiến hành cuộc họp, họ tên người bị xử lý kỷ luật và hành vi vi phạm.
Bước 3: Xác nhận tham dự từ các thành phần liên quan
Các bên nhận được thông báo phải xác nhận tham dự cuộc họp. Trường hợp không thể tham dự vì lý do thời gian, địa điểm thì các bên có thể thỏa thuận thay đổi. Nếu không thỏa thuận được thì người sử dụng lao động quyết định thời gian, địa điểm họp.
Bước 4: Tiến hành cuộc họp xử lý kỷ luật lao động
Người sử dụng lao động tiến hành họp xử lý kỷ luật lao động theo thời gian, địa điểm đã thông báo.
Cuộc họp vẫn sẽ được tiến hành trong trường hợp một trong các bên không xác nhận tham dự cuộc họp hoặc vắng mặt.
Bước 5: Lập biên bản cuộc họp xử lý kỷ luật lao động
Nội dung cuộc họp phải được lập thành biên bản, thông qua trước khi kết thúc cuộc họp và có chữ ký của người tham dự cuộc họp.
Trường hợp có người không ký vào biên bản thì người ghi biên bản nêu rõ họ tên, lý do không ký (nếu có) vào nội dung biên bản.
Bước 6: Ra quyết định xử lý kỷ luật
Người có thẩm quyền xử lý kỷ luật lao động của người sử dụng lao động phải ban hành quyết định xử lý kỷ luật lao động trong thời hiệu quy định và gửi quyết định này đến các thành phần dự họp (bao gồm cả người vắng mặt tại cuộc họp).
Nếu không tuân thủ các nguyên tắc, trình tự, thủ tục khi xử lý kỷ luật lao động như trên, thì căn cứ theo Điều 19 Nghị định 12/2022/NĐ-CP, người sử dụng lao động có thể bị xử phạt như sau:
Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
Bên cạnh phạt tiền, người sử dụng lao động còn có thể bị áp dụng thêm các biện pháp khắc phục hậu quả sau:
6.1. Người lao động có được nhận lương trong thời gian tạm đình chỉ để chứng minh hành vi vi phạm kỷ luật lao động?
Căn cứ Điều 128 Bộ luật Lao động 2019, trong thời gian bị tạm đình chỉ công việc, người lao động được tạm ứng 50% tiền lương trước khi bị đình chỉ công việc. Hết thời hạn tạm đình chỉ, người sử dụng lao động có trách nhiệm nhận người lao động trở lại làm việc theo quy định.
Trường hợp người lao động bị xử lý kỷ luật lao động, người lao động cũng không phải hoàn trả khoản tiền lương đã được tạm ứng. Ngược lại, nếu người lao động không bị xử lý kỷ luật, người sử dụng lao động phải trả đủ tiền lương cho toàn bộ thời gian người lao động bị tạm đình chỉ công việc.
6.2. Có được xử lý kỷ luật lao động hình thức sa thải khi nhân viên không hoàn thành KPI không?
Câu trả lời là không.
Nhân viên không hoàn thành KPI không phải là một trong các căn cứ để xử lý kỷ luật lao động sa thải, do đó người sử dụng lao động không thể áp dụng hình thức xử lý kỷ luật này.
Trường hợp người sử dụng lao động muốn xem xét hành vi này làm căn cứ đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động, vui lòng xem chi tiết tại bài viết theo đường link dưới đây:
6.3. Người lao động đã bị xử lý kỷ luật lao động, sau đó có được xóa kỷ luật lao động không?
Theo quy định tại Điều 126 Bộ luật Lao động 2019, người lao động sau khi bị xử lý kỷ luật sẽ được xóa kỷ luật nếu đáp ứng các điều kiện nhất định.
Cụ thể, người lao động bị khiển trách sẽ được đương nhiên xóa kỷ luật sau 03 tháng, bị kéo dài thời hạn nâng lương sẽ được xóa kỷ luật sau 06 tháng, và bị cách chức sẽ được xóa kỷ luật sau 03 năm, kể từ ngày bị xử lý, với điều kiện không tiếp tục vi phạm. Ngoài ra, đối với trường hợp bị kéo dài thời hạn nâng lương, nếu người lao động đã chấp hành được một nửa thời gian và có sự sửa chữa tiến bộ thì có thể được người sử dụng lao động xem xét giảm thời hạn kỷ luật.