Tranh chấp bản quyền thiết kế đồ họa trong doanh nghiệp là trường hợp phát sinh mâu thuẫn giữa các cá nhân, tổ chức liên quan đến quyền tác giả đối với các sản phẩm thiết kế đồ họa như logo, banner, bộ nhận diện thương hiệu, giao diện website, hình ảnh truyền thông.
Tranh chấp thường xảy ra khi một bên có hành vi sao chép, chỉnh sửa, sử dụng hoặc khai thác thiết kế mà chưa được sự đồng ý của tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả. Ngoài ra, nhiều vụ việc còn phát sinh từ việc không xác định rõ ai là chủ sở hữu thiết kế, không có hợp đồng chuyển giao quyền tác giả hoặc sử dụng sản phẩm thuê thiết kế vượt quá phạm vi thỏa thuận ban đầu.
Những loại hình thiết kế đồ họa thường phát sinh tranh chấp bản quyền gồm:
Đây là các sản phẩm được doanh nghiệp sử dụng phổ biến trong hoạt động quảng bá, xây dựng thương hiệu và kinh doanh nên dễ xảy ra tình trạng sao chép, chỉnh sửa, khai thác hoặc sử dụng trái phép mà không được sự đồng ý của chủ sở hữu quyền tác giả.
Tranh chấp bản quyền thiết kế đồ họa thường phát sinh giữa doanh nghiệp với cá nhân thiết kế, freelancer hoặc công ty cung cấp dịch vụ thiết kế đồ họa liên quan đến quyền sở hữu và quyền sử dụng sản phẩm thiết kế. Nhiều trường hợp doanh nghiệp thuê thiết kế logo, banner, bộ nhận diện thương hiệu nhưng không có thỏa thuận rõ ràng về việc chuyển giao quyền tác giả nên dễ xảy ra mâu thuẫn trong quá trình khai thác, sử dụng hoặc thương mại hóa sản phẩm.
Ngoài ra, tranh chấp cũng thường xảy ra giữa các doanh nghiệp với nhau khi một bên cho rằng thiết kế của mình bị sao chép, chỉnh sửa hoặc sử dụng trái phép trong hoạt động quảng cáo, truyền thông và kinh doanh. Một số trường hợp còn phát sinh từ việc thiết kế có dấu hiệu tương tự về bố cục, màu sắc, hình ảnh hoặc ý tưởng sáng tạo, dẫn đến khiếu nại về hành vi xâm phạm quyền tác giả.
Bên cạnh đó, tranh chấp có thể phát sinh giữa chủ sở hữu quyền tác giả và bên sử dụng thiết kế nếu việc sử dụng vượt quá phạm vi được cho phép, sử dụng sai mục đích hoặc không được sự đồng ý của chủ sở hữu quyền tác giả theo thỏa thuận ban đầu.
Không. Theo khoản 1 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), quyền tác giả phát sinh kể từ thời điểm tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phụ thuộc vào việc đã đăng ký hay chưa đăng ký.
Do đó, các sản phẩm thiết kế đồ họa như logo, banner, poster, bộ nhận diện thương hiệu, giao diện website hoặc giao diện ứng dụng vẫn được pháp luật bảo hộ quyền tác giả ngay khi được tạo ra hợp pháp và đáp ứng điều kiện theo quy định.
Tuy nhiên, doanh nghiệp vẫn nên thực hiện thủ tục đăng ký quyền tác giả vì những lý do sau:
Trong thực tế, Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả thường là tài liệu quan trọng giúp doanh nghiệp bảo vệ quyền lợi hiệu quả hơn khi xảy ra tranh chấp bản quyền thiết kế đồ họa.
Theo điểm g khoản 1 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi bởi khoản 5 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2009), tác phẩm tạo hình và mỹ thuật ứng dụng là một trong những loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả. Vì vậy, các sản phẩm thiết kế đồ họa như logo, banner, poster, bao bì sản phẩm, bộ nhận diện thương hiệu hoặc giao diện thiết kế có thể được bảo hộ theo quy định pháp luật. Bên cạnh đó, khoản 3 Điều 14 Luật này quy định tác phẩm được bảo hộ phải do tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình và không sao chép từ tác phẩm của người khác.
Đồng thời, theo khoản 1 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (được bổ sung bởi khoản 2 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2025), quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định, không phụ thuộc vào việc đã đăng ký hay chưa đăng ký. Vì vậy, thiết kế đồ họa sẽ được bảo hộ quyền tác giả nếu đáp ứng điều kiện về tính sáng tạo và được thể hiện dưới hình thức cụ thể theo quy định pháp luật.
Theo Điều 18 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, quyền tác giả đối với thiết kế đồ họa bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản.
Theo Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi bởi khoản 5 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022), quyền nhân thân của tác giả đối với thiết kế đồ họa gồm:
Theo khoản 1 Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi bởi khoản 5 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022), quyền tài sản đối với thiết kế đồ họa bao gồm:
Lưu ý: Tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn bộ các quyền quy định tại khoản 1 Điều 20 và khoản 3 Điều 19 của Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi bởi khoản 5 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022) phải xin phép và thanh toán tiền nhuận bút, thù lao, các quyền lợi vật chất khác cho chủ sở hữu quyền tác giả.
Doanh nghiệp khi khởi kiện tranh chấp bản quyền thiết kế đồ họa cần thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và pháp luật sở hữu trí tuệ nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Theo khoản 1 Điều 204 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019, 2022, 2025), thiệt hại do xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bao gồm:
Theo khoản 1 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi bởi khoản 11 Điều 2 Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2019), doanh nghiệp có thể yêu cầu Tòa án xác định mức bồi thường theo các căn cứ sau:
Ngoài ra, theo điểm d khoản 1 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi bởi khoản 11 Điều 2 Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2019), trường hợp không thể xác định cụ thể mức thiệt hại, Tòa án có thể quyết định mức bồi thường nhưng không quá 1 tỷ đồng.
Bên cạnh đó, theo khoản 3 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019, 2022, 2025) quy định doanh nghiệp còn có quyền yêu cầu bên vi phạm thanh toán chi phí hợp lý để thuê luật sư phục vụ quá trình giải quyết tranh chấp.
Hành vi xâm phạm bản quyền thiết kế đồ họa có thể bị xử lý bằng biện pháp hành chính theo quy định của Nghị định 341/2025/NĐ-CP về quy định xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan.
Theo khoản 1 Điều 3 Nghị định 341/2025/NĐ-CP, tổ chức, cá nhân vi phạm có thể bị xử phạt bằng hình thức phạt tiền. Ngoài ra, khoản 2 Điều 3 quy định người vi phạm còn có thể bị tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hoặc áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung khác.
Bên cạnh đó, Điều 4 Nghị định 341/2025/NĐ-CP quy định nhiều biện pháp khắc phục hậu quả như buộc gỡ bỏ bản sao vi phạm trên internet, buộc tiêu hủy bản sao vi phạm, buộc xin lỗi công khai hoặc buộc nộp lại khoản lợi bất hợp pháp thu được từ hành vi vi phạm.
Ngoài ra, theo khoản 1 Điều 5 Nghị định 341/2025/NĐ-CP, mức phạt tối đa đối với cá nhân là 250 triệu đồng và đối với tổ chức là 500 triệu đồng.