Theo khoản 1 Điều 3 Nghị định 337/2025/NĐ-CP, hợp đồng lao động điện tử là hợp đồng lao động được giao kết, thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về lao động và pháp luật về giao dịch điện tử, có giá trị pháp lý như hợp đồng lao động bằng văn bản giấy.
Theo Điều 4 Nghị định 337/2025 quy định các nguyên tắc chung khi tham gia hợp đồng lao động điện tử như sau:
- Việc giao kết và thực hiện hợp đồng lao động điện tử phải tuân thủ quy định của pháp luật về lao động, về giao dịch điện tử, về an toàn thông tin mạng, về dữ liệu, về bảo vệ dữ liệu cá nhân, về lưu trữ và quy định tại Nghị định này.
- Hợp đồng lao động điện tử phải được gửi cho người lao động và người sử dụng lao động dưới hình thức thông điệp dữ liệu thông qua phương tiện điện tử phù hợp theo thỏa thuận của các bên.
- Khuyến khích sử dụng hợp đồng lao động điện tử thay thế cho hợp đồng lao động bằng văn bản giấy trong quản trị nhân sự của người sử dụng lao động, trong giải quyết thủ tục hành chính liên quan đến hợp đồng lao động.
Các chủ thể tham gia hoạt động giao kết, thực hiện hợp đồng lao động điện tử quy định tại Điều 5 Nghị định 337/2025/NĐ-CP bao gồm:
- Người lao động và người sử dụng lao động có thẩm quyền giao kết hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 18 Bộ luật Lao động.
- Nhà cung cấp eContract bảo đảm điều kiện quy định tại khoản 3 Điều 6 Nghị định 337/2025/NĐ-CP.
Theo khoản 2 Điều 6 Nghị định 337/2025/NĐ-CP, người sử dụng lao động và người lao động phải bảo đảm các điều kiện sau:
- Đối với người lao động và người sử dụng lao động là cá nhân:
+ Giấy tờ tùy thân bao gồm thẻ căn cước công dân hoặc thẻ căn cước hoặc căn cước điện tử hoặc giấy chứng nhận căn cước hoặc tài khoản định danh điện tử mức độ 2 hoặc hộ chiếu còn thời hạn;
+ Thị thực nhập cảnh còn thời hạn hoặc giấy tờ chứng minh được miễn thị thực nhập cảnh (đối với cá nhân là người nước ngoài).
- Đối với người sử dụng lao động là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình:
+ Quyết định thành lập hoặc quyết định quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức hoặc giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc giấy chứng nhận đầu tư hoặc giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh;
+ Giấy tờ tùy thân của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, bao gồm: thẻ căn cước công dân hoặc thẻ căn cước hoặc giấy chứng nhận căn cước hoặc tài khoản định danh điện tử mức độ 2 hoặc hộ chiếu còn thời hạn; thị thực nhập cảnh còn thời hạn hoặc giấy tờ chứng minh được miễn thị thực nhập cảnh (đối với cá nhân là người nước ngoài).
- Có chữ ký số và sử dụng dịch vụ cấp dấu thời gian theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.
Theo Điều 7 Nghị định 337/2025/NĐ-CP, hợp đồng lao động điện tử có hiệu lực kể từ thời điểm bên sau cùng ký số, dấu thời gian gắn kèm chữ ký số của các chủ thể tham gia giao kết và chứng thực thông điệp dữ liệu của Nhà cung cấp eContract vào hợp đồng lao động điện tử, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
(1).png)
Theo Điều 8 Nghị định 337/2025/NĐ-CP, chuyển đổi hình thức giữa hợp đồng lao động bằng văn bản giấy và hợp đồng lao động điện tử được thực hiện như sau:
- Hợp đồng lao động điện tử được chuyển đổi từ hợp đồng lao động bằng văn bản giấy thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Luật Giao dịch điện tử và đáp ứng các yêu cầu sau:
+ Chủ thể giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản phải được xác thực theo quy định của pháp luật về định danh và xác thực điện tử.
+ Hợp đồng lao động điện tử được chuyển đổi phải được ký số bởi người có thẩm quyền của người sử dụng lao động để xác nhận tính chính xác, đầy đủ so với bản gốc và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung chuyển đổi. Hợp đồng lao động điện tử sau khi chuyển đổi phải được gắn ID.
- Hợp đồng lao động bằng văn bản giấy được chuyển đổi từ hợp đồng lao động điện tử thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Luật Giao dịch điện tử.
- Hợp đồng lao động được chuyển đổi có giá trị như bản gốc khi đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.
Theo Điều 4 Thông tư 08/2026/TT-BNV (có hiệu lực từ 01/07/2026) quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 337/2025/NĐ-CP, mỗi hợp đồng lao động điện tử khi được gửi về Nền tảng hợp đồng lao động điện tử nếu đảm bảo quy định sẽ được cấp một ID duy nhất và không trùng lặp với bất kỳ hợp đồng lao động điện tử nào khác.
ID được cấp một lần, không thay đổi cả trong trường hợp hợp đồng lao động điện tử được sửa đổi, bổ sung, tạm hoãn hoặc chấm dứt. Phụ lục, thông báo tạm hoãn, thông báo chấm dứt hợp đồng lao động điện tử được gắn ID của hợp đồng lao động điện tử đó.
Cơ quan nhà nước dùng ID làm mã quản lý dữ liệu số về hợp đồng lao động điện tử. Việc cấp ID đối với hợp đồng lao động điện tử không làm thay đổi thời điểm giao kết, nội dung, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng lao động điện tử đã được các bên giao kết.
ID được liên kết với các mã hiển thị hoặc mã tra cứu (theo mã số đơn vị hành chính, mã định danh người lao động, mã số thuế của người sử dụng lao động) do Nền tảng hợp đồng lao động điện tử xây dựng phục vụ nhu cầu khai thác dữ liệu nhưng các mã này không thay thế cho ID.
Theo khoản 3 Điều 18 Thông tư 08/2026/TT-BNV (có hiệu lực từ 01/07/2026) quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 337/2025/NĐ-CP, thời hạn lưu trữ dữ liệu về hợp đồng lao động điện tử, phụ lục hợp đồng lao động điện tử và các văn bản điện tử khác liên quan trên Nền tảng hợp đồng lao động điện tử là 10 năm kể từ ngày hợp đồng lao động chấm dứt. Trường hợp người sử dụng lao động và người lao động giao kết nhiều hợp đồng lao động liên tục thì thời hạn 10 năm được tính từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động cuối cùng.
- Thông qua Nền tảng Hợp đồng lao động điện tử của Bộ Nội vụ
Từ ngày 01/7/2026, Việt Nam chính thức vận hành Nền tảng Hợp đồng lao động điện tử do Bộ Nội vụ quản lý. Nền tảng này tiếp nhận, lưu trữ và quản lý dữ liệu hợp đồng lao động điện tử trên phạm vi toàn quốc.
- Thông qua các nhà cung cấp eContract
Doanh nghiệp có thể sử dụng các phần mềm hợp đồng điện tử của các nhà cung cấp dịch vụ eContract. Sau khi hợp đồng được ký và xác thực, nhà cung cấp eContract sẽ gửi dữ liệu về Nền tảng Hợp đồng lao động điện tử để gắn ID và lưu trữ theo quy định.
Hiện nay có nhiều doanh nghiệp cung cấp giải pháp hợp đồng điện tử (eContract) tại Việt Nam như Viettel, FPT, VNPT và các đơn vị cung cấp dịch vụ chứng thực điện tử khác đáp ứng điều kiện theo quy định pháp luật.
Theo điểm c khoản 1 Điều 6 Thông tư 08/2026/TT-BNV (có hiệu lực từ 01/07/2026) quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 337/2025/NĐ-CP, đối với hợp đồng lao động được giao kết trước ngày 01/7/2026 được xử lý như sau:
- Nhà cung cấp eContract hỗ trợ người sử dụng lao động và người lao động rà soát bổ sung chữ ký số, dấu thời gian gắn kèm chữ ký số của các chủ thể giao kết và chứng thực thông điệp dữ liệu của Nhà cung cấp eContract vào hợp đồng lao động điện tử trên eContract.
- Sau khi các bên hoàn thành việc rà soát bổ sung, Nhà cung cấp eContract có trách nhiệm gửi hợp đồng lao động điện tử và các dữ liệu theo quy định về Nền tảng hợp đồng lao động điện tử để thực hiện cấp ID trong vòng 24 giờ kể từ thời điểm tiếp nhận.
Trường hợp hợp đồng lao động giao kết trước ngày 01/7/2026 không đảm bảo quy định về chữ ký số, dấu, chứng thực dữ liệu hoặc thông tin xác thực định danh không đúng, hệ thống Nền tảng hợp đồng lao động sẽ tự gửi thông báo lý do không cấp ID về hệ thống của Nhà cung cấp eContract.
Đối với trường hợp Nhà cung cấp eContract đã gửi hồ sơ đề nghị kết nối tới Bộ Nội vụ nhưng đến ngày 01/7/2026 vẫn chưa hoàn tất việc kết nối với Nền tảng hợp đồng lao động điện tử, đơn vị này vẫn được tiếp tục cung cấp dịch vụ giao kết hợp đồng lao động điện tử trong thời gian chờ kết nối và phải hoàn thành việc kết nối chậm nhất vào ngày 20/7/2026.
Thông tư cũng quy định rõ, các hợp đồng lao động điện tử được giao kết trong thời gian chờ kết nối vẫn có đầy đủ giá trị pháp lý theo quy định của pháp luật. Sau khi hoàn tất kết nối, Nhà cung cấp eContract có trách nhiệm gửi các hợp đồng này về Nền tảng hợp đồng lao động điện tử để thực hiện cấp ID. Việc cấp ID đối với các hợp đồng này sẽ được áp dụng giống với trường hợp hợp đồng lao động điện tử được giao kết trước ngày 01/7/2026.
Điều 9 Nghị định 337/2025/NĐ-CP quy định về trình tự sửa đổi, bổ sung, tạm hoãn, chấm dứt hợp đồng lao động điện tử như sau:
- Trường hợp hợp đồng lao động đã được giao kết thông qua phương tiện điện tử thì việc sửa đổi, bổ sung, tạm hoãn, chấm dứt hợp đồng lao động điện tử được thực hiện như đối với việc giao kết hợp đồng lao động điện tử, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
- Trường hợp hợp đồng lao động được giao kết bằng văn bản giấy thì phải thực hiện chuyển đổi sang hợp đồng lao động điện tử trước.
Phụ lục hợp đồng lao động, thỏa thuận tạm hoãn và thông báo chấm dứt của hợp đồng lao động điện tử hoặc của hợp đồng lao động điện tử được chuyển đổi phải được gắn cùng ID của hợp đồng lao động đó nhằm bảo đảm tính thống nhất, toàn vẹn và khả năng truy xuất lịch sử giao dịch của các bên liên quan.
(1) Có bắt buộc sử dụng hợp đồng lao động điện tử không?
Không. Pháp luật hiện hành không bắt buộc doanh nghiệp phải sử dụng hợp đồng lao động điện tử. Doanh nghiệp vẫn có thể lựa chọn giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản giấy theo quy định của Bộ luật Lao động. Tuy nhiên, Nhà nước khuyến khích người sử dụng lao động áp dụng hợp đồng lao động điện tử thay thế hợp đồng lao động bằng văn bản giấy nhằm phục vụ công tác quản trị nhân sự, lưu trữ hồ sơ và thực hiện các thủ tục hành chính liên quan đến lao động một cách thuận tiện, hiệu quả hơn.
(2) Hợp đồng lao động điện tử có phải in ra giấy để lưu không?
Không. Hợp đồng điện tử được lưu trữ dưới dạng dữ liệu điện tử và có thể tra cứu khi cần thiết.
(3) Người lao động ở nước ngoài có thể ký hợp đồng lao động điện tử không?
Có. Đây là một trong những ưu điểm của hợp đồng điện tử, giúp các bên ký kết từ xa mà không cần gặp trực tiếp.